THỊ TRƯỜNG VĂN PHÒNG CHIA SẺ TẠI VIỆT NAM TĂNG 62% NGUỒN CUNG TRONG NĂM 2018

Tính đến tháng 4/2018, có tổng cộng 19 không gian làm việc chung ở Hà Nội và 15 văn phòng chia sẻ xuất hiện ở TP HCM, đến từ 23 đơn vị điều hành, trong đó có 2 tên tuổi đến từ nước ngoài.

Số lượng không gian làm việc chung tại Việt Nam tăng lên 62% và ghi nhận tỷ lệ tăng trưởng trung bình 55% trong vòng 5 năm qua. Dự báo đến cuối năm 2018, Hà Nội và TP HCM sẽ chiếm lần lượt 56% và 44% của tổng nguồn cung 45 không gian làm việc chung.

Đa phần không gian làm việc chung có xu hướng tập trung ở các khu vực cận trung tâm thành phố. Tại Hà Nội, nhiều không gian làm việc chung gần đây chọn địa điểm tại quận Cầu Giấy, là một khu vực tập trung văn phòng và thương mại mới nổi. Trong khi đó, mô hình văn phòng chia sẻ ở TP HCM có xu hướng rải rác khắp thành phố tại các quận ven trung tâm như Quận 1, 2, 3, 4, quận Bình Thạnh và Phú Nhuận.

Khi thị trường đang phát triển cả về các cơ sở và đơn vị điều hành các đơn vị nhỏ lẻ với chỉ duy nhất một cơ sở cũng đang phát triển nhanh chóng. Mức tăng trưởng dự kiến từ 30% tổng thị phần của năm ngoái lên đến 42% vào cuối năm 2018, các đơn vị vận hành lớn chiếm trung bình khoảng 12% thị phần.

Các đơn vị điều hành như NakedHub từ Trung Quốc hay Hive từ Hong Kong đều đang khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường Việt Nam. Hive lên kế hoạch mở thêm một cơ sở nữa trong trung tâm TP HCM cuối năm 2018. Nakedhub lên kế hoạch khai trương tổng cộng 2 cơ sở trong TP HCM và Hà Nội trong quý II/2018. Các tay chơi mới nhắm đến mô hình văn phòng chia sẻ này cũng đang tìm kiếm cơ hội gia nhập thị trường Việt Nam trong 2 năm tới.

Trước đây, các cơ sở không gian làm việc chung thường không nằm tại các tòa nhà hạng A hoặc vị trí trung tâm. Hiện nay văn phòng chia sẻ cũng đặt địa điểm tại các tòa nhà hạng B hoặc thấp hơn do đơn vị vận hành cần giữ giá thuê ở mức hợp lý.

Các không gian làm việc chung thường tính giá thuê trên đầu người hoặc trên chỗ ngồi, hơn là trên m2 như cách thuê văn phòng thông thường. Các gói dịch vụ chính bao gồm ghế linh hoạt, ghế cố định, và phòng làm việc riêng. Đối với ghế linh hoạt, tiền thuê được tính theo ngày hoặc theo tháng trong khi các lựa chọn còn lại được áp dụng thuê theo tháng. Một vài nơi thậm chí còn cung cấp gói thuê theo giờ đối với người sử dụng không phải là thành viên.

So với một số thành phố trong khu vực, không gian làm việc chung ở Hà Nội và TP HCM hiện có giá thuê thấp hơn, phản ánh mặt bằng giá thuê văn phòng ở Hà Nội và TP HCM hiện đang rẻ hơn tại các thành phố nghiên cứu khác. Ở TP HCM, một số đơn vị điều hành không gian làm việc chung đã mở rộng vào khu vực trung tâm đầu năm 2018, giá thuê văn phòng làm việc riêng đã tăng lên 30 – 50% tại một số cơ sở trong các quận trung tâm.

Các tiện ích tại không gian làm việc chung thường bao gồm quầy lễ tân phục vụ chung cho tất cả các khách thuê, phòng họp, Internet tốc độ cao, máy in và photocopy, quầy cà phê, canteen… Hầu hết các tiện ích này thường đã được tính trong giá thuê. Đối với phòng họp và máy in, thành viên được sử dụng tới một hạn mức nhất định và chỉ phải trả phí khi vượt hạn mức.

Theo khảo sát của CBRE Việt Nam, 91% người sử dụng không gian làm việc chung đều là thế hệ Y (người có độ tuổi dưới 35). Tỷ lệ này cao hơn so với trung bình thế giới là 67%. Con số này cũng phản ánh lượng dân số trẻ của Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực.

Theo khảo sát của Deskmag trong năm 2012, hơn 50% thành viên không gian làm việc chung trên toàn thế giới là những freelancer (người làm việc tự do). Ở Việt Nam, có khoảng 54% người sử dụng là người sáng lập hoặc nhân viên của các công ty khởi nghiệp và gần 14% là người làm việc tự do hoặc tự kinh doanh. Các doanh nghiệp khởi nghiệp này bao gồm cả công ty trong nước và nước ngoài.

Khảo sát này cũng cho thấy hơn 55% người sử dụng làm việc trong ngành công nghệ thông tin, phần còn lại phân bố ở các ngành du lịch, tài chính kinh tế, giáo dục, marketing, bất động sản v.v.

CBRE dự báo, không gian làm việc chung tại Việt Nam sẽ tiếp tục đà tăng trưởng cả về nguồn cung lẫn loại hình đặc thù hướng đến nhóm khách thuê trọng điểm của họ. Các đơn vị phát triển mô hình này vẫn đang tiếp tục tìm kiếm mặt bằng, đặc biệt là tại các tòa nhà hạng A cũng như hạng B trong khu vực trung tâm nhằm khẳng định thương hiệu cũng như thị phần của họ ở Việt Nam.

TP HCM và Hà Nội đều ngang tầm nhau xét về nguồn cầu, khi các đơn vị điều hành đều ghi nhận tỷ lệ lấp đầy trung bình khoảng 75 – 80% trong tháng 4/2018. Nguồn cầu cao, cũng như thị trường còn trẻ khi so sánh với các nước khác trong khu vực, tạo nên tiền đề cho các hoạt động mua bán và sát nhập giữa các không gian làm việc chung trong nước và nước ngoài.

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *